Tang Lễ – Giỗ

Văn khấn giỗ (đầu, hết, thường)

Bài văn khấn giỗ dùng cho giỗ đầu (Tiểu tường), giỗ hết (Đại tường) và giỗ thường (Cát kỵ) hằng năm. Kèm ý nghĩa từng loại giỗ và thứ tự khấn.

Ban biên tập Vận Mệnh Việt · Cập nhật 17/10/2026

Xem ngay bài văn khấn
1

Giới thiệu và ý nghĩa

Văn khấn giỗ là bài khấn đọc trong ngày giỗ, tức ngày mất của ông bà, cha mẹ hoặc người thân, tính theo âm lịch. Người Việt chia ngày giỗ làm ba loại: giỗ đầu (Tiểu tường, tròn một năm sau ngày mất), giỗ hết (Đại tường, thường là năm thứ hai, có nơi là năm thứ ba) và giỗ thường (Cát kỵ, các năm sau đó).

Giỗ đầu và giỗ hết còn mang nặng không khí tang lễ, con cháu thường mặc đồ tang trong lễ; giỗ thường là dịp tưởng nhớ, con cháu tụ họp, không còn khóc than. Bài khấn dưới đây dùng chung, gia chủ đọc đúng tên loại giỗ.

Trước khi cúng giỗ, theo phong tục miền Bắc, nên làm lễ "tiên thường" (cúng chiều hôm trước) và khấn Thổ Công xin phép cho vong linh về hưởng giỗ. Mâm cỗ giỗ gồm những món người đã khuất lúc sinh thời yêu thích, cùng hương, hoa, quả, trầu cau, rượu, vàng mã.

2

Bài văn khấn giỗ (đầu, hết, thường)

Điền họ tên, địa chỉ, ngày âm lịch vào các chỗ "..." trước khi khấn. Đọc chậm rãi, rõ ràng, trang nghiêm; cách xưng hô và lễ vật có thể khác đôi chút tùy địa phương, quan trọng nhất là lòng thành.

✍️ Điền sẵn thông tin vào bài khấn

Thông tin chỉ được lưu trên trình duyệt của bạn để lần sau dùng lại, không gửi lên máy chủ. Bài khấn bên dưới tự cập nhật theo thông tin bạn điền.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần) Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương. Con kính lạy Hoàng Thiên Hậu Thổ chư vị Tôn thần. Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng chư vị Tôn thần. Con kính lạy các cụ Tổ tiên nội ngoại họ ... Hôm nay là ngày ... tháng ... năm ... (âm lịch), chính ngày ... (giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường) của ... (Hiển khảo, Hiển tỷ, quan hệ và họ tên người đã khuất). Tín chủ con là: ... Ngụ tại: ... Năm qua tháng lại, ngày giỗ lại về. Nhớ ơn sinh thành dưỡng dục, ơn sâu nghĩa nặng như trời biển, con cháu chưa báo đáp được bao nhiêu. Nay nhân ngày giỗ, chúng con thành tâm sửa biện hương hoa, lễ vật, cỗ bàn, dâng lên trước linh vị. Cúi xin chư vị Tôn thần cho phép vong linh ... được về hưởng lễ. Kính mời hương linh ... về linh sàng, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật. Kính mời các cụ Tổ tiên nội ngoại, các vị Hương linh gia tiên cùng về hâm hưởng. Cầu mong hương linh được siêu sinh tịnh độ, thường xuyên phù hộ cho con cháu bình an, mạnh khỏe, hòa thuận, làm ăn tấn tới. Chúng con lễ bạc tâm thành, trước án kính lễ, cúi xin chứng giám. Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Câu hỏi thường gặp

Giỗ đầu, giỗ hết, giỗ thường khác nhau thế nào?
Giỗ đầu (Tiểu tường) là tròn một năm sau ngày mất; giỗ hết (Đại tường) là năm thứ hai, có nơi năm thứ ba, sau đó làm lễ mãn tang; giỗ thường (Cát kỵ) là các năm về sau.
Ngày giỗ tính theo âm lịch hay dương lịch?
Theo âm lịch, là ngày mất của người đã khuất. Riêng giỗ đầu, nhiều nơi tính đúng tròn một năm âm lịch kể từ ngày mất.
Có cần cúng tiên thường trước ngày giỗ?
Ở miền Bắc, nhiều gia đình cúng tiên thường vào chiều hôm trước ngày giỗ chính, như lời mời vong linh về. Đây là phong tục tốt nhưng không bắt buộc ở mọi vùng.